Tin mới

Các tiêu chí để phân loại đơn vị kế toán hành chính sự nghiệp – Kế toán Đức Minh
Kế toán hành chính sự nghiệp là kế toán tại những đơn vị hành chính sự nghiệp như trường học, bệnh viện,… Nó có vai trò...
Hướng dẫn khôi phục mã số thuế - Văn bản đề nghị khôi phục mã số thuế
Trong một số trường hợp được cho phép người nộp thuế có thể khôi phục lại mã số thuế của mình. Đó là những trường hợp...
Khi DN góp vốn bằng tài sản có phải xuất hoá đơn không? - Kế toán Đức Minh
Góp vốn bằng tài sản có xuất hóa đơn hay không? Trường hợp nào thì góp vốn nên xuất hóa đơn? Trường hợp nào thì góp vốn...
Bí quyết giúp những bạn học kế toán có công việc ngay sau khi ra trường – Kế toán Đức Minh   
Vấn đề việc làm luôn thật nan giải và khó khăn cho sinh viên khi vừa mới ra trường bắt đầu vào môi trường tìm kiếm việc...
Khi nào được hoàn thuế GTGT điện tử?- Kế toán Đức Minh
Với những trường hợp như thế nào thì doanh nghiệp được áp dụng hoàn thuế Giá trị gia tăng điện tử? Bài viết sau đây, Kế...

Hình ảnh

Kiến thức kế toán cho người đi làm

Một số sai sót thường gặp trong báo cáo tài chính

03/04/2014 03:24

Sai sót liên quan đến bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, kết quả hoạt động kinh doanh là những lỗi thường có trong báo cáo tài chính (BCTC). Đây là nỗi lo lắng không chỉ với các bạn kế toán mới đi làm mà ngay cả những kế toán lâu năm cũng sẽ để lại những sai sót nhất định. BCTC là bức tranh phản ánh “sức khoẻ” của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vô tình hay hữu ý nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tuân thủ đầy đủ các quy định trong chuẩn mực kế toán và các văn bản pháp lý có liên quan đến việc lập và trình bày BCTC, dẫn đến BCTC cung cấp cái nhìn sai lệch hoặc không đầy đủ cho người đọc.

Một số sai sót thường gặp trong báo cáo tài chính

Sau đây là  6 nhóm “sai sót thường gặp” trên BCTC của các doanh nghiệp được công bố vào năm 2012.

1. Hình thức

Luật Kế toán quy định, BCTC của đơn vị kế toán phải được tính bằng đồng Việt Nam (VND), nhưng nhiều BCTC sử dụng đơn vị tính là nghìn đồng, vừa không phù hợp với quy định tại Luật, vừa gây khó theo dõi cho người đọc. Thậm chí, nhiều BCTC khi công bố vẫn thiếu chữ ký của giám đốc, kế toán trưởng, người lập biểu, thiếu thời gian lập. Một số BCTC có bút toán điều chỉnh của kiểm toán, nhưng điều lạ là doanh nghiệp vẫn đề ngày lập là ngày kết thúc năm tài chính.

2. Bảng cân đối kế toán

Trên chỉ tiêu “Tiền và các khoản tương đương tiền”, nhiều doanh nghiệp đã “gom” vào cả những khoản đầu tư có thời hạn trên 3 tháng. Điều này giúp số liệu tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp tăng vọt.

Nhiều doanh nghiệp có các khoản đầu tư chứng khoán, nhưng lại không theo dõi chi tiết từng loại chứng khoán đầu tư ngắn/dài hạn đang nắm giữ, dẫn đến việc hạch toán không đúng lãi, lỗ khi bán chứng khoán.

Thủ tục thành lập hội đồng thẩm định mức trích lập các khoản dự phòng cũng không được nhiều doanh nghiệp thực hiện nghiêm, từ đó không trích lập hoặc trích lập không đúng quy định đối với các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng giảm giá hàng tồn kho…

Nhiều doanh nghiệp cũng không dự kiến mức tổn thất để trích lập dự phòng đối với khoản nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán, nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể hoặc không thu thập thông tin tài chính trước/sau kiểm toán của các đơn vị, tổ chức nhận đầu tư tài chính dài hạn khác để xem xét sự cần thiết phải trích lập dự phòng.

Với hàng tồn kho, khoản mục có giá trị rất lớn trong tổng tài sản của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp ngành xây lắp. Nhưng công tác kiểm kê chưa được thực hiện tốt ở thời điểm khóa sổ kế toán lập BCTC, khiến con số này không đảm bảo độ tin cậy. Nhiều doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho không nhất quán, không phù hợp với chính sách kế toán công bố.

3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Mặc dù TTCK suy giảm kéo dài, nhiều khoản đầu tư tài chính đã bị giảm sâu, nhưng trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ của nhiều doanh nghiệp đã không trình bày luồng tiền liên quan đến chứng khoán nắm giữ vì mục đích thương mại; không bóc tách chênh lệch giữa số dư đầu kỳ và cuối kỳ của các khoản phải thu, phải trả và tồn kho liên quan đến hoạt động đầu tư và tài chính. Thậm chí, trên BCTC của không ít doanh nghiệp, số liệu giữa báo cáo này không khớp với số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh.


4. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là yếu tố chi phối quyết định của nhà đầu tư. Vậy nhưng, vẫn có doanh nghiệp bất động sản áp dụng chuẩn mực về hợp đồng xây dựng (ghi nhận doanh thu theo tiến độ, tương tự nhà thầu xây dựng). Hay có doanh nghiệp ghi doanh thu từ cổ phiếu được nhận không phải trả tiền do công ty cổ phần phát hành thêm cổ phiếu từ thặng dư vốn cổ phần, trả cổ tức bằng cổ phiếu.

Với chi phí, nhiều doanh nghiệp thay đổi phương pháp khấu hao khi không có bằng chứng cho thấy có sự thay đổi về cách thức sử dụng và thu hồi tài sản nhằm giảm con số chi phí phải khấu hao trong năm, nhờ vậy, làm tăng lãi/giảm lỗ trên BCTC. Thậm chí, chi phí lãi vay không được hạch toán đúng, đủ, chi phí quản lý doanh nghiệp cũng không được kết chuyển toàn bộ vào báo cáo kết quả kinh doanh, mà “treo” lại một phần trên bảng cân đối kế toán.

5. Báo cáo tài chính hợp nhất

Không loại trừ đầy đủ các khoản phải thu, phải trả, đi vay, cho vay, quan hệ giao vốn, doanh thu, giá vốn, lãi lỗ chưa thực hiện liên quan đến các giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định của các giao dịch nội bộ giữa doanh nghiệp và chi nhánh trên BCTC tổng hợp/hoặc giữa công ty mẹ và các công ty con, giữa các đơn vị thành viên trong cùng tập đoàn.

Nhiều doanh nghiệp dựa vào lý do không tập hợp được BCTC của công ty liên kết vào thời điểm lập BCTC hợp nhất để hạch toán khoản đầu tư vào công ty liên kết theo phương pháp giá gốc, thay vì sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu, có thể dẫn tới ghi nhận khoản lỗ khi công ty liên kết có tình trạng kinh doanh bết bát, thua lỗ.

6. Thuyết minh BCTC

Thuyết minh BCTC là một thành tố của BCTC, cung cấp cho người đọc báo cáo căn cứ của các số liệu được hạch toán trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh. Thế nhưng, nhiều bản thuyết minh lại theo kiểu “nói một đằng, làm một nẻo”. 

Bản thuyết minh BCTC trong nhiều trường hợp không thuyết minh các chỉ tiêu có tính chất trọng yếu theo quy định của chuẩn mực kế toán như khoản đi vay, cho vay có giá trị lớn, phương pháp xác định doanh thu, giá vốn gắn với từng loại hình lĩnh vực kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp, khiến người đọc không có được cái nhìn rõ ràng, chân thực về doanh nghiệp. Thông tin về các bên liên quan không được trình bày, hoặc trình bày không đủ các nội dung theo quy định của chuẩn mực kế toán.

Cho nên hiện nay đã có rất nhiều doanh nghiệp sử dụng phần mềm trong công tác kế toán. Phần mềm kế toán là một công cụ hữu hiệu hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp tổng hợp BCTC cuối năm, đảm bảo sự chính xác trong các số liệu và hạn chế tối đã các sai sót có thể mắc phải.
 
Chính từ những sai sót này các bạn có thể dẫn đến quyết toán thuế sai và sẽ bị phạt 
học kế toán thuếKế toán tổng hợp, Lập báo cáo tài chính
 
( Nguồn: Internet )
 
promotion
  • Chia sẻ
Bình luận

BÀI VIẾT LIÊN QUAN