Tin mới

Cách kiểm tra số liệu TK 131 và TK 331 trên Báo cáo tài chính.
Tài khoản 131 và tài khoản 331 là hai tài khoản phản ánh công nợ phải thu và phải trả trong doanh nghiệp. Vậy cách...
Phù phép với thanh quét định dạng trong Word 2003-2013
Thanh quét định dạng được ví giống chiếc chổi lau sàn, khi chúng ta phải chỉnh sửa rất nhiều nội dung và mất khá nhiều...
CÁCH HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG NÔNG NGHIỆP
Kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong nông nghiệp cụ thể ra sao? Bài viết sau đây, kế...
Kế toán phân tích thông tin thích hợp và không thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn
Đối với các cấp quản trị, việc phân tích thông tin thích hợp và không thích hợp là cơ sở để đưa ra các quyết định ngắn...
Những điều cần biết khi thực hiện huỷ hoá đơn 2017
Nhiều người dễ nhầm tưởng giữa huỷ hoá đơn và xoá hoá đơn. Vậy như thế nào là huỷ hoá đơn và những vấn đề liên quan đến...

Hình ảnh

Thông tin về thuế

Chính sách thuế khi bán tài sản thế chấp tại ngân hàng

08/08/2014 11:05

Trong thời gian vừa qua, do ảnh hưởng khó khăn của nền kinh tế, nhiều tổ chức cá nhân không có khả năng thanh toán nợ vay dẫn đến các ngân hàng phải bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Vấn đề đặt ra là việc thực hiện nghĩa vụ thuế khi bán tài sản thế chấp được quy định như thế nào. Trong giới hạn bài viết, tác giả tóm tắt một số quy định hiện hành về việc thực hiện nghĩa vụ thuế khi bán tài sản thế chấp tại các ngân hàng thương mại như sau:

 Chính sách thuế khi bán tài sản thế chấp tại ngân hàng

 Chính sách thuế khi bán tài sản thế chấp tại ngân hàng


1. Về thuế giá trị gia tăng (GTGT):
 
Tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 65/2013/TT-BTC ngày 17/5/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT quy định như sau:
  “Tài sản sử dụng để đảm bảo tiền vay của người nộp thuế GTGT hoặc đã được chuyển quyền sở hữu sang bên cho vay khi bán phải chịu thuế GTGT, trừ trường hợp là hàng hoá không chịu thuế GTGT quy định tại Điều 4 Thông tư này.
Ví dụ 2: Trường hợp Công ty TNHH A thế chấp dây chuyền, máy móc thiết bị để vay vốn tại Ngân hàng B. Hết thời hạn vay theo hợp đồng tín dụng, Công ty A không có khả năng trả nợ, Ngân hàng B bán tài sản đảm bảo tiền vay (kể cả trường hợp đã chuyển quyền hoặc chưa chuyển quyền sở hữu tài sản cho Ngân hàng B) để thu hồi nợ thì tài sản này thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.”
Tại Khoản 4, Điều 5 Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính quy định các trường hợp không phải tính, kê khai nộp thuế GTGT:
 
“4. Tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT thì không phải kê khai, tính thuế GTGT khi bán tài sản, kể cả trường hợp bán tài sản đang sử dụng để bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng.
Ví dụ 16: Ông E là cá nhân không kinh doanh thế chấp 01 ô tô 4 chỗ ngồi cho ngân hàng VC để vay tiền. Đến thời hạn phải thanh toán theo hợp đồng, Ông E không thanh toán được cho ngân hàng VC nên tài sản là ô tô thế chấp bị bán phát mại để thu hồi nợ thì khoản tiền thu được từ bán phát mại chiếc ôtô thế chấp nêu trên không phải kê khai, tính thuế GTGT.”
Như vậy, trường hợp Ngân hàng được phép bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ, thì nếu tài sản thế chấp của tổ chức, cá nhân là người nộp thuế GTGT thì Ngân hàng phải kê khai nộp thuế GTGT (trừ các loại tài sản thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định của Luật thuế GTGT như quyền sử dụng đất …); nếu tài sản thế chấp là của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT thì không phải kê khai tính thuế GTGT. 
 
2. Về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp:
 
Theo quy định tại Khoản 3(a), Điều 26 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với chuyển nhượng bất động sản thì:
 
“a) Cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản thực hiện khai thuế theo từng lần phát sinh, kể cả trường hợp thuộc đối tượng được miễn thuế. Khai thuế đối với một số trường hợp cụ thể như sau:
a.1) Trường hợp cá nhân có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà nhưng đem thế chấp, bảo lãnh vay vốn hoặc thanh toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đến hết thời hạn trả nợ, cá nhân không có khả năng trả nợ thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài làm thủ tục phát mại, bán bất động sản đó đồng thời thực hiện khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân thay cho cá nhân trước khi thực hiện thanh quyết toán các khoản nợ của cá nhân…”
Tại Khoản 4, Điều 17 Thông tư 123/2013/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính quy định về khai thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) khi bán tài sản thế chấp:
 
“4. Trường hợp tổ chức tín dụng nhận giá trị bất động sản là tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm thì tổ chức tín dụng khi được phép chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật phải kê khai nộp thuế thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản vào Ngân sách Nhà nước. Trường hợp bán đấu giá bất động sản là tài sản bảo đảm tiền vay thì số tiền thu được  thực hiện thanh toán theo quy định của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và kê khai nộp thuế theo quy định. Sau khi thanh toán các khoản trên, số tiền còn lại được trả cho các tổ chức kinh doanh đã thế chấp bất động sản để bảo đảm tiền vay.
Trường hợp tổ chức tín dụng được phép chuyển nhượng bất động sản đã được thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi vốn nếu không xác định được giá vốn của bất động sản thì giá vốn được xác định bằng (=) vốn vay phải trả theo hợp đồng thế chấp bất động sản cộng (+) chi phí lãi vay chưa trả đến thời điểm phát mãi bất động sản thế chấp theo hợp đồng tín dụng cộng (+) các khoản chi phí phát sinh khi chuyển nhượng bất động sản nếu có hóa đơn, chứng từ hợp pháp.”( Kế toán thuế )
Như vậy, Ngân hàng có nghĩa vụ kê khai nộp thuế TNCN và thuế TNDN khi bán tài sản thế chấp là bất động sản của tổ chức, cá nhân để thu hồi vốn vay theo quy định nêu trên./.
 
 ( Nguồn: tổng cục thuế )
  • Chia sẻ
Bình luận

BÀI VIẾT LIÊN QUAN