Quy Định Liên Quan Đến Việc Xác Định Tiền Chậm Nộp Tiền Thuế
Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính đưa ra các quy định liên quan đến việc xác định tiền chậm nộp thuế, cụ thể như sau
Cập nhật 07/08/20144 phút đọc
Trả lời nhanh
Với tiền thuế nợ phát sinh từ 01/7/2013, tiền chậm nộp là 0,05% mỗi ngày trên số thuế chậm nộp đến ngày thứ 90, và 0,07% mỗi ngày từ ngày chậm nộp thứ 91 trở đi, theo quy định tại thời điểm bài viết (2014). Số ngày chậm nộp tính cả ngày lễ, ngày nghỉ, kể từ ngày liền kề sau hạn nộp đến ngày nộp tiền vào ngân sách; người nộp thuế tự xác định số tiền chậm nộp.
Ý chính
Nợ thuế phát sinh từ 01/7/2013: chậm nộp 0,05% mỗi ngày đến ngày thứ 90
Từ ngày chậm nộp thứ 91 trở đi tính 0,07% mỗi ngày (theo quy định năm 2014)
Nợ phát sinh trước 01/7/2013 tính phạt theo luật cũ đến hết ngày 30/6/2013, sau đó tính tiền chậm nộp
Số ngày chậm nộp tính cả ngày lễ, ngày nghỉ, từ ngày sau hạn nộp thuế
Người nộp thuế tự xác định tiền chậm nộp; cơ quan thuế thông báo nợ quá 30 ngày hằng tháng
Theo quy định tại thời điểm đăng bài (10/04/2014); chính sách có thể đã thay đổi.
1. Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh từ ngày 01/7/2013 thì tiền chậm nộp được tính như sau:
0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đến ngày thứ 90
0,07% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp kể từ ngày chậm nộp thứ 91 trở đi.
2. Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh trước ngày 01/7/2013 nhưng sau ngày 01/7/2013 vẫn chưa nộp thì tính như sau: trước ngày 01/7/2013 tính phạt chậm nộp theo quy định tại Luật quản lý thuế, từ ngày 01/7/2013 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế.
3. Số ngày chậm nộp tiền thuế (bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ theo quy định của pháp luật) được tính từ ngày liền kề sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế, thời hạn gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế, thời hạn nộp thuế ghi trong thông báo hoặc quyết định xử lý vi phạm pháp luật về thuế của cơ quan thuế hoặc quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến ngày người nộp thuế nộp số tiền thuế vào ngân sách nhà nước.
4. Trường hợp cơ quan thuế thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên để thu hồi nợ thuế thì người nộp thuế bị tính tiền chậm nộp từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế; thời hạn gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; thời hạn nộp thuế ghi trong thông báo hoặc quyết định xử lý của cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền đến ngày cơ quan thuế lập biên bản kê biên tài sản.
Trường hợp đã chuyển giao quyền sở hữu tài sản bán đấu giá cho người mua theo quy định của pháp luật mà cơ quan chức năng có thẩm quyền bán đấu giá tài sản không nộp tiền thuế vào NSNN thì cơ quan chức năng có thẩm quyền bán đấu giá tài sản phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày tiếp theo ngày chuyển giao quyền sở hữu tài sản đến ngày nộp thuế vào NSNN.
Không tính chậm nộp trong thời gian thực hiện các thủ tục đấu giá theo quy định của pháp luật.
5.Người nộp thuế tự xác định số tiền chậm nộp. Việc xác định số tiền chậm nộp được căn cứ vào số tiền thuế chậm nộp, số ngày chậm nộp tiền thuế và mức tỷ lệ phần trăm (%) theo quy định trên.
Các trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp theo quy định mà người nộp thuế đã nộp tiền chậm nộp thì người nộp thuế tự kê khai điều chỉnh.
6. Hàng tháng, nếu người nộp thuế chưa nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp còn nợ của các tháng trước đó, cơ quan thuế thông báo số tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp còn phải nộp tính đến ngày cuối tháng nếu số tiền thuế, tiền phạt đã quá 30 ngày. Trường hợp phát hiện sai sót về tiền thuế nợ, cơ quan thuế điều chỉnh lại tiền chậm nộp và thông báo cho người nộp thuế.