Trả lời nhanh

Theo Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC, hóa đơn mua vào có giá trị thanh toán từ 20 triệu đồng trở lên phải thanh toán không dùng tiền mặt (chuyển khoản giữa các tài khoản đã đăng ký với cơ quan thuế) mới được khấu trừ GTGT đầu vào. Ngoài ra, vẫn được khấu trừ khi bù trừ công nợ, vay mượn hoặc thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba, nếu có hợp đồng và chứng từ đầy đủ, theo quy định tại thời điểm bài viết (2017).

Ý chính

  • Trường hợp 1
  • Trường hợp 2
  • Trường hợp 3
  • Trường hợp 4
  • Trường hợp 5

Theo quy định tại thời điểm đăng bài (09/06/2017); chính sách có thể đã thay đổi.

Căn cứ và trích dẫn quy định tại điều 1 của thông tư số 26/2015/TT-BTC ban hành ngày 27 tháng 02 năm 2015, quy định các trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:

1.Trường hợp 1

Thanh toán không dùng tiền mặt với giá trị thanh toán trên 20 triệu đồng trở lên.

Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải thanh toán bằng chuyển khoản với những hóa đơn có giá trị trên 20 triệu đồng, từ tài khoản của doanh nghiệp đăng ký với cơ quan thuế đến tài khoản của người bán (cũng được đăng ký với cơ quan Thuế).

2.Trường hợp 2

Trường hợp hàng hóa dịch vụ mua vào của doanh nghiệp được tính theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào và giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và có sự xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào và hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba bên làm căn cứ khấu trừ thuế.

3.Trường hợp 3

Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào của DN được thực hiện theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền hay cấn trừ công nợ qua người thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó. Đồng thời phải có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay sang tài khoản của bên đi vay đối với khoản vay bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà người bán hỗ trợ cho người mua, hoặc nhờ người mua chi hộ.

4.Trường hợp 4

Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán ủy quyền qua bên thứ 3 thanh toán ngân hàng (bao gồm cả những trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ 3 do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo ủy quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.

Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán đã nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

Thực hành cùng giảng viênMuốn làm được việc này trên chứng từ thật? Học kèm 1-1 với giảng viên Đức Minh.Xem khoá học

5.Trường hợp 5.

Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào của doanh nghiệp được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (căn cứ theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì doanh nghiệp cũng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Ví dụ 1: Công ty A mua hàng của công ty B và công ty A đang còn nợ tiền hàng của công ty B. Tuy nhiên, công ty B vẫn còn đang còn nợ tiền thuế vào ngân sách nhà nước. Căn cứ luật quản lý Thuế, cơ quan Thuế thực hiện thu tiền, tài sản của công ty B do công ty A đang nắm giữ để thực hiện theo quyết định hành chính thuế thì khi công ty A chuyển tiền vào tài khoản thu ngân sách cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng, số thuế GTGT đầu vào tương ứng với doanh số của hàng hóa mua vào được kê khai, khấu trừ.

Ví dụ 2: Công ty C thực hiện ký hợp đồng kinh tế với công ty D về việc cung cấp hàng hóa và công ty D đang còn nợ tiền hàng của công ty C.

Thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc yêu cầu thu toàn bộ số tiền mà công ty D đang còn nợ công ty C để chuyển vào tài khoản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mở tại Kho bạc Nhà nước để giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hang hóa giữa công ty C và đối tác.

Khi công ty D chuyển trả số tiền vào tài khoản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (việc chuyển tiền này không được quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán giữa công ty C và công ty D) thì trường hơp này cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng, số thuế GTGT đầu vào tương ứng với đoanh số của hàng hóa mua vào được kê khai, khấu trừ.

Bạn đọc có thể tham khảo thêm các bài viết có liên quan:

>>> Tìm hiểu về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là gì?

>>> Không được khấu trừ thuế TNCN trong những trường hợp nào?

>>> Thanh toán bù trừ công nợ là gì? Có được khấu trừ thuế GTGT

Kế toán Đức Minh chúc bạn đọc thành công!

-Huyen Babi-

Căn cứ pháp lý

  • Thông tư 26/2015/TT-BTC

Khoá học liên quan

Kế toán thực tế

Kèm 1-1 trên chứng từ thật · khai giảng liên tục