Trả lời nhanh
Theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, bên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật phải bồi thường. Người sử dụng lao động nhận lại người lao động phải trả lương, đóng bảo hiểm những ngày không được làm việc và thêm ít nhất 02 tháng tiền lương; nếu người lao động không quay lại thì trả thêm trợ cấp thôi việc. Người lao động trái luật bồi thường nửa tháng lương, tiền lương ngày không báo trước và chi phí đào tạo (nếu có).
Ý chính
- Chấm dứt hợp đồng không đúng các trường hợp luật cho phép bị coi là trái pháp luật
- Người sử dụng lao động nhận lại người lao động phải trả lương, bảo hiểm và ít nhất 02 tháng tiền lương
- Người lao động không muốn quay lại thì được thêm trợ cấp thôi việc
- Không nhận lại và người lao động đồng ý thì thỏa thuận bồi thường thêm ít nhất 02 tháng lương
- Người lao động trái luật bồi thường nửa tháng lương, tiền ngày không báo trước và chi phí đào tạo
Theo quy định tại thời điểm đăng bài (07/11/2022); chính sách có thể đã thay đổi.
1.Đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật là gì?
Căn cứ theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định pháp luật.
BLLĐ 2019 đã quy định cụ thể trường hợp các bên được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và các trường hợp nghiêm cấm đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Do đó, nếu đơn phương chấm dứt HĐLĐ không thuộc các trường hợp được cho phép thì bị coi là chấm dứt hợp đồng trái luật như:
- NSDLĐ tự ý chấm dứt HĐLĐ khi người lao động đang thực hiện nghĩa vụ quân sự;
- NSDLĐ tự ý chấm dứt HĐLĐ khi người lao động mang thai hoặc đang nghỉ thai sản;
- NSDLĐ tự ý chấm dứt hợp đồng với người lao động đủ tuổi nghỉ hưu mà không báo trước;
- Người lao động tự chấm dứt hợp đồng không báo trước mà không có lý do…
2.Mức bồi thường nếu đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật
Căn cứ theo Bộ luật Lao động 2019 đã đặt ra trách nhiệm bồi thường đối với bên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật như sau:
a.Đối với người sử dụng lao động
Căn cứ theo quy định tại Điều 41 BLLĐ năm 2019, người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật thì phải bồi thường tổn thất về vật chất lẫn tinh thần cho người lao động. Tùy vào từng trường hợp mà mức bồi thường sẽ là khác nhau. Cụ thể:
- Trường hợp 1: Nhận lại người lao động vào làm việc, NSDLĐ phải:
+ Trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc;
+ Trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước (nếu vi phạm thời hạn báo trước);
+ Trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ.
- Trường hợp 2: Người lao động không muốn làm việc, NSDLĐ phải trả:
+ Các khoản tiền như ở trường hợp 1;
+ Trợ cấp thôi việc cho người lao động.
- Trường hợp 3: NSDLĐ không muốn nhận lại và người lao động đồng ý, thì phải trả:
+ Các khoản tiền ở trường hợp 2;
+ Thỏa thuận về việc bồi thường thêm cho người lao động ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ.
b.Đối với người lao động
Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật, người lao động phải bồi thường cho người sử dụng lao động những khoản tiền sau:
+ Nửa tháng tiền lương theo HĐLĐ;
+ Khoản tiền tương ứng với tiền lương theo HĐLĐ trong những ngày không báo trước (nếu vi phạm thời hạn báo trước);
+ Chi phí đào tạo (trường hợp người lao động được đào tạo nghề từ kinh phí của NSDLĐ).
Ngoài những khoản bồi thường theo phân tích ở trên, mức bồi thường trong thực tế còn phụ thuộc vào những quy định cụ thể trong hợp đồng lao động và thỏa thuận của các bên.
Bạn đọc có thể tham khảo thêm các bài viết có liên quan:
>>> Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
>>> Những lưu ý khi chấm dứt hợp đồng lao động từ năm 2021 – Kế toán Đức Minh
>>> Mẫu quyết định chấm dứt hợp đồng lao động – Kế toán Đức Minh.
Kế toán Đức Minh chúc bạn đọc thành công!
-Ms Le-
Khoá học liên quan
Kế toán thực tế
Kèm 1-1 trên chứng từ thật · khai giảng liên tục



