Trả lời nhanh

Theo Thông tư 65/2013/TT-BTC, tài sản dùng bảo đảm tiền vay của người nộp thuế GTGT, hoặc đã chuyển quyền sở hữu sang bên cho vay, khi bán phải chịu thuế GTGT, trừ hàng hóa không chịu thuế. Ngược lại, tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải người nộp thuế GTGT thì không phải kê khai, tính thuế GTGT khi bán tài sản, kể cả tài sản đang thế chấp tại ngân hàng (theo Thông tư 06/2012/TT-BTC, năm 2013).

Ý chính

  • Bán tài sản bảo đảm tiền vay của người nộp thuế GTGT phải chịu thuế GTGT, trừ hàng hóa không chịu thuế
  • Quy định tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư 65/2013/TT-BTC ngày 17/5/2013
  • Ngân hàng bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ vẫn thuộc đối tượng chịu thuế GTGT
  • Cá nhân, tổ chức không kinh doanh không phải kê khai, tính thuế GTGT khi bán tài sản
  • Quy định này gồm cả tài sản đang bảo đảm tiền vay (Thông tư 06/2012/TT-BTC)

Theo quy định tại thời điểm đăng bài (11/12/2013); chính sách có thể đã thay đổi.

 Chính sách thuế khi bán tài sản thế chấp tại ngân hàng

1. Về thuế giá trị gia tăng (GTGT): Tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 65/2013/TT-BTC ngày 17/5/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT quy định như sau: “Tài sản sử dụng để đảm bảo tiền vay của người nộp thuế GTGT hoặc đã được chuyển quyền sở hữu sang bên cho vay khi bán phải chịu thuế GTGT, trừ trường hợp là hàng hoá không chịu thuế GTGT quy định tại Điều 4 Thông tư này. Ví dụ 2: Trường hợp Công ty TNHH A thế chấp dây chuyền, máy móc thiết bị để vay vốn tại Ngân hàng B. Hết thời hạn vay theo hợp đồng tín dụng, Công ty A không có khả năng trả nợ, Ngân hàng B bán tài sản đảm bảo tiền vay (kể cả trường hợp đã chuyển quyền hoặc chưa chuyển quyền sở hữu tài sản cho Ngân hàng B) để thu hồi nợ thì tài sản này thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.” Tại Khoản 4, Điều 5 Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính quy định các trường hợp không phải tính, kê khai nộp thuế GTGT: “4. Tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT thì không phải kê khai, tính thuế GTGT khi bán tài sản, kể cả trường hợp bán tài sản đang sử dụng để bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng. Ví dụ 16: Ông E là cá nhân không kinh doanh thế chấp 01 ô tô 4 chỗ ngồi cho ngân hàng VC để vay tiền. Đến thời hạn phải thanh toán theo hợp đồng, Ông E không thanh toán được cho ngân hàng VC nên tài sản là ô tô thế chấp bị bán phát mại để thu hồi nợ thì khoản tiền thu được từ bán phát mại chiếc ôtô thế chấp nêu trên không phải kê khai, tính thuế GTGT.” Như vậy, trường hợp Ngân hàng được phép bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ, thì nếu tài sản thế chấp của tổ chức, cá nhân là người nộp thuế GTGT thì Ngân hàng phải kê khai nộp thuế GTGT (trừ các loại tài sản thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định của Luật thuế GTGT như quyền sử dụng đất …); nếu tài sản thế chấp là của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT thì không phải kê khai tính thuế GTGT.  2. Về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp: Theo quy định tại Khoản 3(a), Điều 26 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với chuyển nhượng bất động sản thì: “a) Cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản thực hiện khai thuế theo từng lần phát sinh, kể cả trường hợp thuộc đối tượng được miễn thuế. Khai thuế đối với một số trường hợp cụ thể như sau: a.1) Trường hợp cá nhân có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà nhưng đem thế chấp, bảo lãnh vay vốn hoặc thanh toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đến hết thời hạn trả nợ, cá nhân không có khả năng trả nợ thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài làm thủ tục phát mại, bán bất động sản đó đồng thời thực hiện khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân thay cho cá nhân trước khi thực hiện thanh quyết toán các khoản nợ của cá nhân…” Tại Khoản 4, Điều 17 Thông tư 123/2013/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính quy định về khai thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) khi bán tài sản thế chấp: “4. Trường hợp tổ chức tín dụng nhận giá trị bất động sản là tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm thì tổ chức tín dụng khi được phép chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật phải kê khai nộp thuế thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản vào Ngân sách Nhà nước. Trường hợp bán đấu giá bất động sản là tài sản bảo đảm tiền vay thì số tiền thu được thực hiện thanh toán theo quy định của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và kê khai nộp thuế theo quy định. Sau khi thanh toán các khoản trên, số tiền còn lại được trả cho các tổ chức kinh doanh đã thế chấp bất động sản để bảo đảm tiền vay. Trường hợp tổ chức tín dụng được phép chuyển nhượng bất động sản đã được thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi vốn nếu không xác định được giá vốn của bất động sản thì giá vốn được xác định bằng (=) vốn vay phải trả theo hợp đồng thế chấp bất động sản cộng (+) chi phí lãi vay chưa trả đến thời điểm phát mãi bất động sản thế chấp theo hợp đồng tín dụng cộng (+) các khoản chi phí phát sinh khi chuyển nhượng bất động sản nếu có hóa đơn, chứng từ hợp pháp.”( Kế toán thuế ) Như vậy, Ngân hàng có nghĩa vụ kê khai nộp thuế TNCN và thuế TNDN khi bán tài sản thế chấp là bất động sản của tổ chức, cá nhân để thu hồi vốn vay theo quy định nêu trên./.  ( Nguồn: tổng cục thuế )
Thực hành cùng giảng viênMuốn làm được việc này trên chứng từ thật? Học kèm 1-1 với giảng viên Đức Minh.Xem khoá học

Căn cứ pháp lý

  • Thông tư 65/2013/TT-BTC
  • Thông tư 06/2012/TT-BTC
  • Thông tư 111/2013/TT-BTC
  • Thông tư 123/2013/TT-BTC

Khoá học liên quan

Kế toán thực tế

Kèm 1-1 trên chứng từ thật · khai giảng liên tục