Trả lời nhanh
Người lao động ký hợp đồng xác định thời hạn từ 12 đến 36 tháng phải báo trước ít nhất 30 ngày khi đơn phương chấm dứt hợp đồng. Nghỉ ngay mà không báo trước là chấm dứt hợp đồng trái pháp luật: không được trợ cấp thôi việc, phải bồi thường nửa tháng tiền lương cộng tiền lương của những ngày không báo trước, và hoàn trả chi phí đào tạo, theo Bộ luật Lao động hiện hành tại thời điểm bài viết (2021).
Ý chính
- Hợp đồng không xác định thời hạn: báo trước ít nhất 45 ngày
- Hợp đồng từ 12 đến 36 tháng: báo trước ít nhất 30 ngày
- Hợp đồng dưới 12 tháng: báo trước ít nhất 03 ngày làm việc
- Nghỉ không báo trước thì không được trợ cấp thôi việc
- Phải bồi thường nửa tháng lương và tiền lương những ngày không báo trước, hoàn trả chi phí đào tạo
Theo quy định tại thời điểm đăng bài (11/11/2021); chính sách có thể đã thay đổi.
Theo Bộ Luật Lao động hiện hành thì người lao động được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định sau đây:
Điều 35: Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;
d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Như vậy, trừ lý do quy định tại khoản 2 điều này (đơn phương chấm dứt không cần thông báo trước thời gian) thì các trường hợp còn lại người lao động muốn đơn phương chấm dứt tuy không cần thông báo lý do nhưng phải chấp hành thông báo vê thời gian. Trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng thì thời gian báo trước cho công ty theo quy định là ít nhất 30 ngày mới được chấm dứt. Do đó, việc nghỉ việc ngay mà không chấp hành thời gian thông báo trước là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại điều 39 và phải có trách nhiệm theo quy định sau đây:
Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Không được trợ cấp thôi việc
2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước
3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.
-st-
Hi vọng thông tin hữu ích này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn! Cảm ơn!
Khoá học liên quan
Kế toán thực tế
Kèm 1-1 trên chứng từ thật · khai giảng liên tục



