Trả lời nhanh
Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, thu nhập từ sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung. Nếu vợ chồng cùng góp vốn mở công ty nhưng chỉ chồng đứng tên, phần vốn góp vẫn là tài sản chung. Vợ làm nội trợ vẫn được coi là lao động có thu nhập nên khi ly hôn có quyền yêu cầu chia; tài sản chung được chia đôi có tính đến hoàn cảnh gia đình và công sức đóng góp.
Ý chính
- Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng
- Vốn góp vào công ty trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung dù chỉ chồng đứng tên
- Điều 25: vợ chồng kinh doanh chung là người đại diện hợp pháp của nhau, trừ khi có thỏa thuận khác
- Lao động nội trợ được coi như lao động có thu nhập
- Khi ly hôn, tài sản chung chia đôi có tính đến hoàn cảnh và công sức đóng góp (Điều 59)
Theo quy định tại thời điểm đăng bài (10/09/2026); chính sách có thể đã thay đổi.
Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh thì:
Điều 25. Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
1. Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác.
...
Như vậy, trường hợp vợ chồng cùng góp vốn mở công ty trong thời kỳ hôn nhân nhưng chỉ có chồng đứng tên thì phần vốn góp trong Công ty được xác định là tài sản chung của vợ chồng.
Vợ ở nhà nội trợ thì khi ly hôn có được chia tài sản không?
Căn cứ quy định tại khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 4, Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thì:
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
…
Như vậy, theo quy định nói trên thì vợ tuy làm nội trợ trong gia đình nhưng đây vẫn được coi như lao động có thu nhập. Do đó, trong trường hợp hai vợ chồng cùng góp vốn mở công ty nhưng chỉ có chồng đứng tên công ty và trực tiếp điều hành, quản lý công ty còn vợ ở nhà nội trợ thì phần vốn góp vào Công ty được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn người vợ vẫn được quyền yêu cầu chia tài sản chung này. Toà án sẽ căn cứ các quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 4, Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP để phân chia tài sản chung cho vợ chồng.
Căn cứ pháp lý
- Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP
Khoá học liên quan
Kế toán thực tế
Kèm 1-1 trên chứng từ thật · khai giảng liên tục



