Tin mới

Xử lý hàng tồn kho quá nhiều so với thực tế.
Xử lý hàng tồn kho quá nhiều so với thực tế. Khi hàng tồn kho còn quá nhiều so với thực tế, bạn sẽ cảm thấy hoang mang,...
Sự giống nhau và khác nhau khi xuống dòng 1 ô trong Excel
Sử dụng Excel thật là tiện ích, nhưng chúng ta vẫn loay hoay không làm được là do chưa thật sự hiểu đúng tính năng của...
Xử lý sao với chi phí vận chuyển, bốc dỡ không có hoá đơn GTGT.
Khi trong doanh nghiệp có những chi phí vận chuyển hay bốc dỡ mà không có hoá đơn GTGT để được coi là chi phí hợp lý và...
14 dấu hiệu chứng tỏ bạn yêu thích công việc của mình
Bạn có yêu thích công việc hiện tại của mình? Phải thừa nhận ngay cả khi đang làm công việc mà mình đam mê, vẫn có...
Thuế Xuất Nhập Khẩu- Những điều không phải ai cũng biết
Thuế Xuất Nhập Khẩu dùng để quản lý hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu trong doanh nghiệp. Bạn là một kế toán mới vào...

Hình ảnh

Được tài trợ

Khuyến mãi lớn của MISA
Kiến thức kế toán cho người đi làm

Kinh nghiệm làm báo cáo nguồn tài chính

03/04/2014 04:22

Báo cáo nguồn tài chính là bảng cân đối kế toán sử dụng để đánh giá doanh nghiệp đang tiến triển như thế nào...

Kế toán Đức Minh xin chia sẻ kinh nghiệm phụ trách báo cáo nguồn tài chính năm 2013. Cần chú ý những vấn đề sau khi lâp báo cáo nguồn tài chính. Nguyên tắc chung để lập bảng cân đối kế toán:

 Kinh nghiệm làm báo cáo nguồn tài chính

 Kinh nghiệm làm báo cáo nguồn tài chính

Kế toán Đức Minh  xin chia sẻ kinh nghiệm phụ trách báo cáo nguồn tài chính năm 2013. Cần chú ý những vấn đề sau khi lâp báo cáo nguồn tài chính. Nguyên tắc chung để lập bảng cân đối kế toán:
 
+ Trước khi lập BCĐKT, nhân viên kế toán cần phải phản ánh tất cả các kỹ năng kinh tế nảy sinh vào sổ kế toán tổng hợp và chi tiết có liên quan, thực hiện việc kiểm kê tài sản và phản ánh kết quả kiểm kê vào sổ kế toán. Trước khi khoá sổ. Đối chiếu công nợ phải thu, phải trả, đối chiếu giữa dữ liệu tổng hợp và dữ liệu chi tiết, dữ liệu trên sổ kế toán và số thực kiểm kê, khoá sổ kế toán và tính số dư các tài khoản.

+ Khi lập BCĐKT, những chỉ tiêu liên quan đến những tài khoản phản ánh tài sản có số dư Nợ thì căn cứ vào số dư nợ để ghi. Những chỉ tiêu liên quan đến những tài khoản phản ánh nguồn vốn, có số dư có thì căn cứ vào số dư có của tài khoản để ghi.

+ Những chỉ tiêu thuộc các khoản phải thu, phải trả ghi dựa vào số dư chi tiết của các tài khoản phải thu, tài khoản phải trả. Nếu số dư chi tiết là dư Nợ thì qui ở phần "tài sản", nếu như số dư chi tiết là số dư có thì ghi ở phần "nguồn vốn".

+ Một số chỉ tiêu liên quan đến các tài khoản điều chỉnh hoặc tài khoản dự phòng (như TK : 214, 129, 229, 139, 159) luôn có số dư có, nhưng khi lên BCĐKT thì ghi ở phần tài sản dựa vào số âm; các tài khoản nguồn vốn như 412, 413, 421 giả dụ có số dư bên Nợ thì vẫn ghi ở phần "nguồn vốn", nhưng ghi dựa vào số âm.
• Cơ sở dữ liệu và phương pháp lập BCĐKT :
Cơ sở để lập BCĐKT là dữ liệu của BCĐKT năm trước (cột số cuối kỳ) và tài liệu kế toán tổng hợp, dữ liệu kế toán chi tiết tại thời điểm lập BCĐKT sau khi đã khoá sổ. Cụ thể :
* Đối với cột "đầu năm". Căn cứ dữ liệu cột "cuối kỳ" của BCĐKT ngày 31/12 năm trước để ghi.
* Cột cuối kỳ : phương pháp lập khai quát có thể biểu diễn qua sơ đồ sau (kết cấu dựa vào 2 phần xếp dọc):

2 Phương pháp lập BCĐKT cột số cuối kỳ cụ thể như sau :
BCĐKT là phương pháp kế toán tổng hợp tài liệu từ các sổ kế toán dựa vào các mối quan hệ cân đối vốn có của đối tượng kế toán. Mối quan hệ cân đối đó gồm 2 loại :

1- Quan hệ cân đối tổng thể, cân đối chung như quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn :
Tổng số tài sản = Tổng số các nguồn vốn
Tổng số tài sản = Tài sản lưu động + TSCĐ và đầu tư nguồn tài chính
Tổng số nguồn vốn = Nợ phải trả + nguồn vốn của chủ sở hữu
Thông qua các quan hệ cân đối trên có thể thấy được kết cấu của từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn từ đó mà xác định được thực trạng nguồn tài chính của doanh nghiệp, đưa ra các quyết định về việc đầu tư vốn dựa vào hướng hợp lý, phù hợp với mục đích và điều kiện buôn bán trong từng giai đoạn cụ thể, phù hợp với ngành nghề buôn bán của từng cty.

2- Quan hệ cân đối từng phần, cân đối bộ phận :
Thể hiện quan hệ cân đối giữa số hiện có và sự vận động của từng đối tượng kế toán : từng loại vốn, từng nguồn vốn. Cụ thể :
+ Nguồn vốn chủ sở hữu
B nguồn vốn = A tài sản (I+II+IV+V+VI) + B tài sản
Cân đối này chỉ mang tính lý thuyết điều đó có nghĩa là : Nguồn vốn của chủ sở hữu vừa đủ trang trải các loại tài sản cho các hoạt động chủ yếu mà không phải đi vay hoặc chiếm dụng.
Trong thực trạng thường xảy ra 1 trong 2 trường hợp :

• Trường hợp 1 :
vế trái > vế phải
doanh nghiệp không sử dụng kết thúc nguồn vốn hiện có của mình đã bị người khác chiếm dụng vốn. Thể hiện trên mục III (các khoản phải thu) loại A - phần tài sản.

• Trường hợp 2 :
vế trái < vế phải
doanh nghiệp thiếu nguồn vốn để trang trải cho các tài sản đang sử dụng nên phải vay mượn. Thể hiện trên loại B - phần nguồn vốn. Việc sử dụng vốn vay mượn trong buôn bán giả dụ chưa quá thời hạn thanh toán là điều bình thường, hay xảy ra.
Do luôn tồn tại các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với đối tượng khác nên luôn xảy ra hiện tượng chiếm dụng và bị chiếm dụng. Vấn đề cần quan tâm là tính chất hợp lý và hợp pháp của các khoản đi chiếm dụng và bị chiếm dụng.

B nguồn vốn + A (II) nguồn vốn = B tài sản
Điều này cho thấy cách tài trợ các loại tài sản ở doanh nghiệp mang lại sự ổn định và an toàn về mặt nguồn tài chính. Bởi lẽ doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho các sử dụng dài hạn vừa đủ. Tuy nhiên, trong hiện thực có thể xảy ra 1 trong 2 trường hợp sau :

• Trường hợp 1 :
vế trái > vế phải
Điều đó cho thấy việc tài trợ từ các nguồn vốn là rất tốt. Nguồn vốn dài hạn thừa để tài trợ cho các sử dụng dài hạn, phần thừa này doanh nghiệp dành cho các sử dụng ngắn hạn. Điều đó cũng có nghĩa là tài sản lưu động lớn hơn nợ ngắn hạn thể hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là tốt.

• Trường hợp 2 :
vế trái < vế phải
Cho thấy nguồn vốn dài hạn nhỏ hơn tài sản cố định và đầu tư nguồn tài chính dài hạn, doanh nghiệp đã sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho các sử dụng dài hạn. Tình hình nguồn tài chính của doanh nghiệp là không sáng sủa. Trường hợp này thể hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là yếu vì chỉ có tài sản lưu động và đầu tư nguồn tài chính ngắn hạn mới có thể chuyển đổi thành tiền trong thời gian ngắn để đảm bảo việc trả nợ.
  ( Nguồn: Internet )
 
  • Chia sẻ
Bình luận

BÀI VIẾT LIÊN QUAN